NHỮNG KHÁM PHÁ KHẢO CỔ HỌC MỚI
Ở MIỀN NAM VIỆT NAM
Phạm
Đức Mạnh
Trong những năm gần đây, sinh viên Khoa
Sử (Trường ĐHKHXH&NV - ĐHQGTP.HCM) đă
tiến hành nhiều đợt thực tập dài ngày.
Đó là tham dự cuộc khai quật “chưa từng
thấy” trên đất rừng Tây Nguyên (di chỉ
tiền sử Lung Leng), khảo sát kiếm t́m cổ
vật ở quần thể di tích lịch sử - văn
hoá Quốc gia - Mộ Cự thạch Hàng G̣n (Long Khánh -
Đồng Nai), khảo sát các quần thể kiến trúc,
đền đài lăng tẩm lớn thuộc văn minh
Oùc Eo như Cát Tiên (Lâm Đồng) và G̣ Tháp Mười
(Đồng Tháp), các làng cổ thời tiền sử -
sơ sử ở 3 miền địa h́nh Long An hay làng trên
nhà sàn ngập trong śnh Rạch Lá vùng cận biển Long
Thành và Nhơn Trạch (Đồng Nai) .v.v
(Phạm Đức Mạnh, 2001). Ngay trong các đợt
thực tập “chính khóa”, sinh viên cũng đă thu được từ
thực địa nhiều bài học về phương
pháp điền dă, khảo cứu và giám định di tích -
di vật văn hóa cổ xưa, tập giải các “bài
toán” hiện trường nghiên cứu đặc
thù của chuyên ngành trong khoa học Lịch sử,
đề xuất bước đầu các giải pháp
bảo tồn di sản văn hoá (Nguyễn Tuyết Trinh,
2001; Phạm Ngọc Thảo, 2002).
Ở bài này, dưới góc độ nghiên
cứu chuyên ngành, tôi chỉ xin điểm lại mấy
khám phá mới về các loại h́nh di tích - di vật
độc đáo thuộc các thời kỳ tiền sử
- sơ sử và cổ sử - lịch sử của sinh
viên Trường ta ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ
(Việt Nam).
1. NHỮNG “DI CHỈ - XƯỞNG”
TIỀN SỬ - SƠ SỬ VÙNG NGĂ BA SÔNG
VÀ MIỀN S̀NH CẬN BIỂN ĐỒNG
NAI
1.1 DI TÍCH
Trong các mùa điền dă 1999-2002, ngoài việc
thực hành khảo sát tại một số di chỉ tiền
sử thuộc Biên Ḥa (B́nh Đa, G̣ Me) và Long Khánh (quần
thể mộ Cự thạch
Hàng G̣n I - II), đoàn sinh viên chuyên ban Khảo cổ học
đă dồn sức đào thám sát vùng ngă ba sông thuộc lâm
phận Hiếu Liêm - Vĩnh Cửu (Đồng Nai), Tân
Uyên (B́nh Dương) và tham gia khai quật các làng ngập
śnh vùng cận biển.
Trong địa phận Đồng Nai,
tại Đồi Pḥng Không, trên sườn đồi phía
tây - đông nam rộng 2100m², đoàn đă thu thập
được 269 cổ vật, bao gồm: 260 đồ
đá, với các loại h́nh như : 2 phác vật ŕu
tứ giác lưỡi sắc;
115 phác vật ṿng h́nh đĩa (với 66 tiêu bản
chưa có dấu khoan và 49 tiêu
bản mang dấu khoan ở 1 - 2 mặt, quy mô chung của
đường kính 8,4 - 12cm); 58 lơi ṿng h́nh tṛn do kỹ
thuật khoan tách lơi tạo nên (quy mô 2 đường kính
trung b́nh: 4,95 - 6,3 x 4,7 - 5,8cm); 5 mảnh ṿng đeo tay (d=
6,9-11cm); 5 bàn mài; 58 mảnh tước cùng chất liệu
phiến sừng để làm ṿng; 10 tảng đá phế
liệu, 1 công cụ dạng chày bằng đá keo núi
lửa cứng chắc (10,65 x 4 - 7,5 x 3,1 - 3,7cm) và 6 di
vật h́nh cầu hoặc khối tṛn dẹt như bánh xe
(4,7 - 6,05 x 4,4 - 5,4 x 2,9 - 4,2cm). Đồ đất nung có 1
bàn xoa gốm; 8 mảnh gốm thô vỡ nhỏ, làm
từ sét pha nhiều cát và
lẫn sỏi sạn nhỏ, độ nung không cao,
gốm mềm bở và dễ thấm nước.
Ở Suối Linh, trong phạm vi xuất
lộ cổ vật rộng tới 8.750m² (175 x 140m) ở
dải đồi thấp phía đông, đoàn đă
tiến hành đào một hố thám sát quy mô 6m² (2 x 3m) theo
hướng đông tây, phát hiện tầng văn hoá
khảo cổ học chứa hàng ngàn di tồn xưa,
đặc biệt có cả vài “phác vật
đàn đá”. Tổng số cổ vật thu trong
hố thám sát và trên bề mặt di tích Suối Linh tới
1.545 tiêu bản; trong đó: Đồ đá có 979 tiêu
bản, với 3 cuốc tứ giác; 253 ŕu - bôn (có 201 ŕu -
bôn h́nh tứ giác hoặc tam giác, 12 ŕu - bôn có vai và 40 phác
vật); 19 đục các cỡ; 13 dao hái; 22 bàn mài (với
nhiều tiêu bản c̣n 3 - 4 mặt sử dụng); 2 ḥn ghè;
18 đá ghè đẽo h́nh cầu hay h́nh khối bầu
dục chưa rơ công dụng; 18 mảnh phiến đàn
đá; cùng 631 mảnh tách - mảnh tước các loại.
Đồ đất nung có: 161 bàn xoa gốm (có 61 tiêu
bản chỉ c̣n chuôi, có chuôi bàn xoa c̣n có lỗ dùi thủng
ở đầu), cùng hàng ngàn mảnh đồ
đựng mang trang trí hoa văn lạ.
Tại khu vực rẫy Nguyễn Nghị,
địa điểm nằm sát bờ tây cách Suối Linh
khoảng 400 - 500m về phía đông bắc, đoàn đă
t́m thấy 2 ŕu đá không vai,
1 bôn vai xuôi, 1 phác vật ŕu, 1 đục, 5 bàn mài bằng sa
thạch, 20 di vật các loại phế vật công cụ
hoặc giống ḥn ghè v.v. Ở Cống Đôi trên
sườn đồi ven bờ sông Bé, có 1 ŕu cỡ
nhỏ (8 x 3,2 x 1,5cm) chế tác từ đá spilit cứng
chắc màu vàng nhạt và được mài bóng toàn thân,
lưỡi sắc bén và 1 lục lạc đồng cỡ
nhỏ. Ở rẫy Phạm
Ba, gần hợp lưu Suối Linh - Sông Bé, đoàn ghi
nhận tầng văn hoá xuất lộ 150m², ken dày cổ
vật: 11 ŕu - bôn đá các cỡ, 1 ḥn ghè h́nh cầu, 1 bàn
xoa gốm, hàng trăm mảnh đồ đựng
dạng nồi hay ṿ từng thấy ở làng cổ
Suối Linh.
Trên đất B́nh Dương bên kia sông
Đồng Nai, đoàn trở lại phúc tra G̣ Đá
(Mỹ Lộc) - “di chỉ - xưởng” nổi
tiếng từ 1977 với hàng ngàn di vật các loại
ngổn ngang trên mặt g̣ (Phạm Đức Mạnh,
1977). Ở đây, trong khu vực phía đông nam di tích,
tầng văn hoá hiện diện rất rơ với
độ sâu trung b́nh 0,7-1,1m, ken dày đá - gốm. Ngoài 19
mảnh miệng - đế đồ đựng
đặc trưng G̣ Đá, đoàn thu thêm sưu tập
đá gồm: 2 cuốc h́nh thang dài, 1 bôn tứ giác, 1
phế vật ŕu vai xuôi và 3 bàn mài.
Trong vùng ngập mặn ven bờ sông Thị
Vải thuộc Long Thành và Nhơn Trạch, đoàn đă
tiến hành khảo sát trên diện rộng ở Cái
Vạn, Cái Lăng thu được 40 cổ vật,
gồm: 39 đồ đá, với 9 di vật có vai (1
cuốc, 8 ŕu bôn có bản lưỡi dài hoặc ngắn);
8 ŕu tứ giác; 2 bàn mài mang nhiều vết sử dụng
trên thân; 1 viên bi đất nung, 40 mảnh gốm cổ
với nhiều loại miệng cùng hoa văn khắc
vạch hoặc chải thừng, các chân ống bát bồng
và chân cà ràng dạng tṛn hay bẹt v.v. Ở Rạch Lá,
đoàn tham gia cuộc đào lớn 103m² của Viện
Khảo cổ học 3/2002, phát giác 6 cọc nhà sàn dài 1,5-3m
c̣n cắm sâu trong tầng śnh, cùng 55 ŕu - bôn đá, nhiều
bàn mài, 3 ch́ lưới, 1 ḥn nghiền, 1 thanh đàn đá
cỡ 35 x 18 x 3cm, nặng 3kg; đồ đất nung có: 1
cà ràng, 8 viên đạn, 508 mảnh đồ đựng
kiểu nồi, ṿ, chum, đĩa; 2 di vật gỗ lạ
v.v. (Mai Văn Hậu - Kim Sa Rai, 2002).
1.2 NHẬN XÉT CHUNG
Các mùa điền dă 1999-2002 tại vùng ngă ba
sông Bé - Đồng Nai và miền ngập śnh cận
biển Đông Nam Bộ của sinh viên Khoa Sử đă góp
thêm nhiều tư liệu mới, cung cấp cho công
cuộc nghiên cứu tiền sử - sơ sử ở các
tiểu vùng văn hoá nguyên thuỷ đặc trưng
của phức hệ di tích Đồng Nai mà nhát cuốc
của nhà khảo cổ học xâm thực tới chưa
nhiều, kể từ khám phá của T.V.Holbé cuối
thế kỷ 19 đến những cuộc thám sát khai
quật đầu tiên ở G̣ Đá (1977), Suối Linh
(1985), Cái Vạn (1996) (Trần Quốc Vượng -
Phạm Đức Mạnh, 1997).
Trong hàng ngàn di vật khảo cổ học
tiền sử được đưa về Bảo tàng
Đồng Nai, chúng ta có thể nhận ra nhiều tiêu
bản thuộc các loại h́nh di vật mới. Ví như,
những lưỡi cuốc đá có vai lệch và bản
lưỡi gần h́nh chữ
nhật, những ŕu - bôn có lưỡi vát gần
như kiểu ŕu lưỡi xéo v.v. ở Cái Vạn (Long
Thành). Đó c̣n là những tiêu bản ŕu thân ngắn với
lưỡi xoè ṿng cung gần giống như kiểu mô phỏng lưỡi
trũng parabol của sưu tập ŕu đồng
đặc trưng ở Đông Nam Bộ, các phiến “đá
xanh đen” chế tác dọc ŕa tạo dáng chữ
nhật dài giống đàn đá dồn đống ở
góc hố thám sát, gốm có loại h́nh miệng khum gấp
khúc dáng lạ v.v. ở di tích Suối Linh; lưỡi ŕu
sắc bén làm từ đá
hiếm ở Cống Đôi (Hiếu Liêm). Đặc
biệt, ở Đồi Pḥng Không, ngoài đồ đá và
cả gốm cổ lần đầu tiên phát hiện
được ở trái đồi này ghi nhận thêm các
khả năng cư trú
thường xuyên hoặc tạm thời của tập
thể người cổ, hàng ngàn di vật các loại quan
hệ đến quy tŕnh chế tác ṿng tay đá bằng
kỹ thuật tạo phác h́nh đĩa và khoan tách lơi
từ 1 - 2 mặt, minh định rơ ràng h́nh hài một công
xưởng chuyên chế ṿng trang sức đeo tay bằng
phiến sừng bản địa.hiện biết là
lớn nhất miền Nam Việt Nam. Thế nhưng,
kỹ thuật khoan tách lơi từ 1 - 2 mặt, theo tôi, hoàn
toàn tùy thuộc vào độ dày di vật và chất
liệu nham thạch, chứ không liên quan ǵ đến cái
gọi là “tŕnh độ sớm muộân khác nhau”
như có người khẳng định. Các di tích c̣n
lại (Suối Linh, Rẫy Nguyễn Nghị và rẫy
Phạm Ba, G̣ Đá) đều là những “di chỉ -
xưởng” (workshop-sites) đích thực, có quy mô
lớn rộng vào bậc nhất miền Đông Nam
Bộ. Với những dấu tích đá - gốm sưu
tầm được, tôi tin rằng các địa
điểm rẫy Nguyễn Nghị và rẫy Phạm Ba
gắn kết với làng - xưởng Suối Linh từ
ngàn xưa dọc theo đôi bờ ḍng chảy này viền
quanh thung lũng cổ từ đầu nguồn về
nơi hợp lưu Suối Linh - Sông Bé. Ở những làng
thủ công rộng nhiều hec-ta này, những người
thợ xưa tập trung chế tạo công cụ lao
động đá từ phác vật đầu tiên
đến những thành phẩm cuốc - ŕu bôn -
đục chủ yếu h́nh tứ giác, tam giác, ít thể
loại có vai, dao hái, đàn đá đơn giản. Riêng
người thợ Suối Linh c̣n sản xuất thêm hàng
loạt bàn đỡ - bàn xoa đất nung phục
dịch cho thao tác tạo h́nh trong các ḷ gốm cổ.
Sự đồng chất “Di chỉ -
xưởng” làm nên đặc trưng nổi bật
trong xóm làng cổ làm nông và hoạt động thủ công
vùng ngă ba sông Bé - Đồng Nai so với các phân vùng quy
tụ dân cư tiền sử khác thuộc Phức hệ
văn hoá Đồng Nai. Những cổ vật mới
lạ được đưa ra ánh sáng khoa học từ
ḷng śnh Cái Vạn, Cái Lăng, Rạch Lá (Long Thành và Nhơn
Trạch) chính là những “nhân chứng không
lời” của
diện mạo văn hoá nguyên thủy vùng ven sông Thị
Vải cả ngàn năm trước Công nguyên và, cùng
với các niên đại C14 từ cọc - dao - kiếm
gỗ Cái Vạn (3360 ± 80; 3195 ± 70 BP), Cái Lăng (3260 ± 70 BP),
Rạch Lá (3100 ± 60 BP) (1) và với vị thế độc
đạo của những “bàn đạp
lịch sử” hướng ra biển Thái B́nh của chúng,
“Kích thước Cần Giờ”
về môi trường cảnh quan - lịch sử văn
hoá - kinh tế xă hội trong quan niệm của Diệp
Đ́nh Hoa (1996), theo thiển ư của chúng tôi, có thể và
nên phải tính từ đỉnh điểm Tứ giác
rừng Sác ngập mặn Đông Nam Bộ - tính từ
Phước Thọ với Cái Vạn, Cái Lăng và Rạch
Lá
, ít nhất là từ đấy.
Hy vọng rằng, cùng với việc xây
dựng kế hoạch nhiều năm điền dă -
nghiên cứu - xây dựng bản đồ khảo cổ
học và tăng cường hợp tác giữa
Trường ta và Sở VH-TT B́nh Dương, Đồng
Nai; trong công tác đào tạo chuyên gia trẻ; các cuộc
khai quật nghiêm túc và rộng lớn hơn sẽ
được thực thi ở những “trại ấp
trên nước” này, và ở chính Đồi Pḥng Không,
Suối Linh, các rẫy Nguyễn Nghị - Phạm Ba
thuộc đất Đồng Nai và cả G̣ Đá bên kia
sông thuộc đất B́nh Dương - “một trong
những địa điểm thời kỳ Đá
mới quan trọng nhất Đông Nam Á” (Helmut
Loofs-Wissowa, 1981); mà chỉ nhờ thế, chúng ta mới hy
vọng có thêm những tri thức khảo cổ học
nền tảng về h́nh hài các làng cổ làm nông và hoạt
động thủ công định vịù trên sườn
đồi phù sa cổ hay trên nhà sàn ngập mặn thuỷ
triều từng góp sức vào sự vận hành cả xă
hội nguyên thủy của riêng miền văn hoá nơi
cao nguyên và đồng bằng ven biển Đông phía Nam
Việt Nam trong quá văng 2 thiên kỷ trước Công nguyên.
2. NHỮNG
KHẨU SÚNG THẦN CÔNG Ở THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ
Trong đợt thực tập “Khảo
sát hiện trạng các di tích lịch sử - văn hoá Nam
Trung Bộ” tháng 5/2001, thầy tṛ Khoa Sử đă
dừng chân tại Thành Cổ Quảng Trị, mảnh
đất lịch sử nằm kẹp giữa 2 ḍng
chảy Thạch Hăn và Vĩnh Định, từng là 1 trong
những trung tâm chính trị - kinh tế - quân sự lớn
phía bắc Kinh thành Nguyễn. Đây vốn là toà thành
đất đắp h́nh vuông đời Gia Long (1809), xây
lại bằng gạch thời Minh Mạng (1837), cấu
trúc kiểu Vauban, với 4 pháo đài góc nhô ra gần h́nh
thoi; 4 cửa giữa 4 mặt thành rộng 3,4m xây ṿm
cuốn có vọng lâu mái lợp ngói uốn cong; chu vi ṿng
thành 2160m (540 trượng), tường cao 4m và dầy
từ 0,65m (trên) đến 12m (chân); cùng hệ thống hào
bao quanh rộng 18,4m và sâu 3,2m. Nội thành gồm hành cung
cấu trúc 3 gian 2 chái, mái lợp ngói liệt có hệ
thống tường bao h́nh vuông (100 x 100m) với 2 cửa
bắc - nam, kỳ đài, các dinh tuần vũ, án sát, lănh
binh, các ty phiên, miết, thương chính, các nhà quan giám binh,
kiểm học, trại lính, xưởng đúc tiền,
các kho trữ lương và vũ khí v.v. (Ban quản lư di
tích, danh thắng Quảng Trị, 2000).
Sau “Mùa hè đỏ lửa” tổng
tiến công và nổi dậy 1972 của quân dân ta với
cuộc chiến 81 ngày đêm (28/6 - 16/9) chính tại Thành
Cổ Quảng Trị, phần lớn kiến trúc thành
xưa bị tàn phá v́ bom đạn, chỉ c̣n lại
dấu vết ít đoạn tường thành, lao xá,
nền hành cung, các cổng tiền hậu
Trong
công cuộc bảo tồn, phục chế và tôn tạo di
tích lịch sử văn hoá Quốc gia này, nhiều
hiện vật hiếm quư được thu hồi
dưới các nền gạch vụn. Ngoài một số
viên đạn thời Nguyễn với cỡ đạn
rộng từ 3-20cm, c̣n 3 khẩu súng thần công bằng
đồng thau độc đáo được t́m
thấy khi làm Đài tưởng niệm ở trung tâm khuôn
viên Thành Cổ.
Hai khẩu lớn nhất cùng chung cặp ṇng
ngắn và cùng mang nhiều “thương tích”
do đạn và mảnh bom gây. Súng được đúc
h́nh khối trụ tṛn c̣n nguyên vẹn với chiều dài
toàn thân 116cm và đường kính ṇng rộng 36,1cm. Súng
được cấu tạo thành 3 phần, trong đó
phần ṇng dài nhất có gờ gấp h́nh viên phân viền
quanh vành miệng, mép ṇng tính từ chân đến
đỉnh gờ gấp dày 8,2-9,5cm. Phần khối
hậu đúc kín, ngắn và nhỏ hơn phần ṇng súng,
với lỗ điểm hoả tṛn rộng bố trí trên
khung nổi giữa h́nh lá đề và với gờ
gấp h́nh vành khăn viền quanh (chu vi 157,5cm) có ḍng
chữ Hán: “Ngự chế thần uy địch
thượng tướng quân đệ nhất vị”
và “Ngự chế thần uy địch
thượng tướng quân đệ nhị vị”.
Nắp súng đúc liền khối hậu với núm dài 20cm
có đầu h́nh cầu, cùng vành đai ở chính giữa
trụ cầu mang khung bằng chữ Hán: “Minh Mạng
thập ngũ niên chú”. Khúc giữa súng dày
nhất, tạo thành các gờ bậc nơi tiếp giáp
với ṇng và khối hậu, có 2 trục quay h́nh trụ
tṛn với 2 đầu rộng 13,5cm đối xứng
nhau qua thân súng. Trục quay dài 13cm, riêng chỗ gắn
với thân súng được cấu tạo thêm 2 ṿng
nấc, ở bề mặt 1 trục quay c̣n có ḍng chữ
Hán ghi số cân của súng là 2634 cân và 2661 cân.
Tiêu bản 3 là súng lệnh bằng
đồng thau c̣n nguyên vẹn và láng bóng khắp mặt
ngoài, không hề bị xây xát do bom đạn như 2
khẩu đại bác lớn (có thể do bị vùi lấp
từ trước cuộc chiến Xuân Hè 1972). Súng
được đúc liền thân dài 133cm; ṇng nhỏ
với mép loe ra và tạo thành 2 nấc; khẩu kính 9cm
với miệng dày 4cm. Súng có cấu tạo thành nhiều
khoang với các gờ đai h́nh viên phân quanh thân. Tất
cả có 7 gờ đai tính từ ṇng xuống đuôi súng
thuộc các cỡ khác nhau, chia súng thành 6 phần không
đều nhau. Trong đó, phần ṇng súng dài nhất
với 4 gờ đai, phần giữa và khối hậu
gần tương đương nhau, với chu vi vành
đai viền khối hậu là lớn nhất (93cm),
gắn liền lỗ điểm hoả trên lá đề
và đuôi súng. Phần đuôi dài 14,5cm, cũng có đầu
h́nh trụ tṛn như thường thấy ở súng
lệnh. Riêng khúc gắn trục quay (khoang 4 tính từ
miệng ṇng xuống đuôi), ngoài 2 trục quay h́nh trụ
tṛn dài 9cm, đường kính rộng 8,5cm, gắn liền
với 2 bên thân súng bởi 2 vành tṛn ngắn và rộng
hơn, c̣n được người xưa đúc thêm 2
quai xách h́nh mui thuyền, cách đều và song song với
nhau dọc thân trên dài 17cm và nhô cao 11cm. Cả 2 quai xách
được đúc tạo h́nh giống như con
rồng đầu to đuôi nhỏ uốn tṛn, gắn trên
các trục tṛn nhô lên trên thân súng. Sự hiện diện
cặp quai xách trên thân súng ghi nhận tính cơ động
của đại bác dạng này ở Thành Cổ Quảng
Trị; song cấu trúc quai xách h́nh rồng gợi ư rằng
đây là súng lệnh chỉ bố trí trong hành cung, phục
vụ các đại lễ đón vua tuần thủ,
thăng quan
như sử
cũ từng ghi nhận ở các thành lũy cấp
tỉnh thời Gia Long - Minh Mạng. Vành bao khối hậu
và 2 bề mặt tay quay súng c̣n khắc chữ Hán mà
nhiều chữ đă bị mờ; 4 hàng chữ rơ nhất
ở mặt tay quay bên trái ghi rằng: “Đích xạ
hảo hạng dược nhị cân tứ lượng,
đạn chỉ dụng đồng đạn nhị
thốn nhất phân” (“Bắn chính xác
nhất th́ dùng 2 cân 4 lượng thuốc súng, đạn
dùng đạn đồng có đường kính 2 tấc 1
phân”).
Những tiêu bản thần công và đạn
dược thời Nguyễn hiện c̣n tàng trữ tại
Pḥng truyền thống di tích lịch sử văn hoá
Quốc gia Thành Quảng Trị hiện là những di
vật xưa nhất gắn liền với Thành Cổ
hàng tỉnh này các đời Nguyễn Gia Long và Minh
Mạng. Chúng tôi mong rằng các cuộc đào móng xây
dựng mới để tôn tạo di tích đang diễn
ra trên toàn bộ 10ha của Quần thể di tích này sẽ
hướng tới không chỉ phục chế lại “hệ
thống giao thông hào - công sự chiến đấu”
của quân giải phóng trong “Mùa hè đỏ
lửa” 1972, mà c̣n khôi nguyên nền cũ của hành
cung, kỳ đài và h́nh hài hồ thành, tường bao,
cổng, cầu
ở mức có thể được. Và, trong Bảo tàng Thành Cổ
tương lai, bên cạnh nhiều chứng tích chiến
tranh thời hiện đại, 3 tiêu bản đại bác
và súng lệnh thần công Nguyễn sẽ có thêm “đồng
loại” (tương hợp với nhiều cỡ
đạn đă biết) và có thêm nhiều di vật quư “đồng
đại” khác, từ các bia đá, vật liệu
kiến trúc - xây dựng - trang trí nội thất và kho tàng
., đến các vũ khí, chiến cụ và
vật dụng sinh hoạt cả quan lẫn lính và dân
thường, dù c̣n nguyên bản hay chỉ c̣n là những
mảnh vỡ thời cận đại mà tôi nhặt
được ở đó đây ven tường bao
nội thành.
3. NHỮNG
QUẦN THỂ MỘ CỔ Ở TIỀN GIANG
Trong 2 mùa điền dă qua, đoàn sinh viên
Trường ta đă về Tiền Giang nghiên cứu
một trong những loại h́nh di tích Khảo cổ
học Lịch sử hấp dẫn của người
Việt ở Nam Bộ - mộ Hợp chất (Phạm
Đức Mạnh - Phan Thanh Toàn, 2001).
3.1. QUẦN THỂ CÁI BÈ: Trong quần thể 3 mộ có nấm h́nh “voi
phục” ở Cái Bè, tọa lạc trên khu
đất 15 x 25m = 375m², mộ Mỹ Quới - Đức
Mỹ Đông có dạng lăng, quy mô khuôn viên 5 x 4m = 20m²
(thành trong) và 10 x 6m = 60m² (thành ngoài). Riêng nhà mồ 4 x 3,6m, cao
1,78m, đúc dáng thấp nhưng bền vững bằng
hợp chất (vôi sống, mật đường,
nước nhớt thực vật và cát sỏi có
độ phong hóa cao), với thành ngoài c̣n nguyên chia 2
phần tiền - hậu, lợp ngói âm dương bằng
vật chất; chỉ các trụ sen bị hư hại
nhiều. Ở mộ Đông Hoà Hiệp, thành quách nội
ngoại xây tường dầy 0,6m bao quanh diện tích
gần 60m² (7,65 x 6,65m), với 4 trụ sen (0,65 x 0,62 x 0,5m),
c̣n nhà mồ khá dị biệt với 2 hộc trống bên
trong lưu giữ đồ kỷ niệm. Riêng cặp
mộ song táng Cái Bè (MC1: cải táng; MC2: ướp xác) có
h́nh lăng bao quanh quách thành nội - ngoại và b́nh phong
(2,55 x 1m) ở phần đầu tạo dáng h́nh mái
đ́nh, nhưng không c̣n bia và nhà mồ, ngoài mấy câu
liễn đối ca tụng phong cảnh đất
đai và địa cuộc của nhà nho và mui luyện
(0,68m) h́nh “voi phục” mà dân sở tại
gọi là “vương miện”, gắn
với khung đài bia trên bệ xây kiểu khán thờ chân
quỳ. Các mộ được khai quật khá dị
biệt v́ mui luyện hiện h́nh bông sen, khi đục phá
lớp hồ hợp chất 10cm và huyệt đúc c̣n rơ
nhiều lớp hợp chất (MC2-CB-9/94) (Đỗ
Đ́nh Truật - Lê Aùi Siêm - Dương Hùng Dũng -
Nguyễn Mạnh Thắng, 1997; Phạm Đức Mạnh
- Phan Thanh Toàn, 2002).
Ngoài những mộ đă biết, sinh viên
Trường ta đă khám phá thêm một số mộ
cấu trúc khác lạ trong địa phận 2 xă Ḥa
Hiệp và Ḥa Khánh (Cái Bè). Ngôi mộ ở Đông Ḥa
Hiệp được người xưa kiến tạo
bằng hợp chất thường thấy, bề ngoài
điêu khắc trang trí nhiều khung viền thực
vật cân xứng và khá cầu kỳ nhưng bị hư
hại nhiều, bị bong tróc gần hết các phù điêu
mô tả hoa lá và dây leo, các đường kẽ viền
giả gạch, văn bia và bài vị. Mộ mang kiến
trúc nhà mồ, với phần quách đúc liền khối
cấu trúc mui luyện h́nh hộp chữ nhật mà
phần nắp mái lại tạo h́nh gần nón cụt. Bên
trong nhà mồ được ngăn thành 2 hộc trống
có thể là nơi đặt đồ tuỳ táng của
chủ nhân ngôi mộ (cả 2 hộc này c̣n rơ vết đào
phá bởi những kẻ đào trộm mộ cổ t́m
báu vật). Mặt nền mộ phủ dầy đất
và cây cỏ. Các bờ tường bao quanh và cột trụ
bị găy đổ và hư hại nặng, chỉ c̣n rơ
bờ tường thành trước và nền bao cao
khoảng 30-50cm ở xung quanh.
Ở Ḥa Khánh, 6 di tích khá giống nhau về
chất liệu và kỹ thuật xây dựng, b́nh
đồ khá đơn giản với khuôn viên h́nh chữ
nhật (20 - 100m²) mà cấu trúc mui luyện, hộc thờ,
văn bia, bài vị và các phù điêu trang trí h́nh nổi
mặt tiền khá giống nhau có thể chủ nhân cùng
huyết tộc (?). Các mộ khác nằm lẻ trong các
vườn cây phủ nhiều cỏ dại, phần
lớn bị tróc hết văn bia, bài vị, hiện không
có cháu con ghi nhận. Riêng mộ Ḥa Hảo với khuôn viên
lớn gần 100m², c̣n nguyên b́nh phong dày tạo dáng gần
nón cụt gắn với cặp trụ góc h́nh khối
chữ nhật dài có đầu giống như cặp bát
úp nhau được nhân dân sở tại từ xưa
gọi là mộ Bà Nghè. Di tích được bảo
quản tốt nhất hiện là mộ Ḥa Quư mà tương
truyền là ngôi mộ tổ Lê Văn Duyệt (?), dù văn
bia nguyên h́nh chữ nhật đặt trên bệ
đặt trước quách mộ, với đường
viền trang trí bao quanh và nóc bia tam giác chạm nổi
cầu kỳ h́nh sen và văn mây lồng nhau nhưng toàn
bộ chữ trong khung đều bị bào ṃn gần
hết. Phần quách cấu trúc hộp kín đơn
giản với khung b́nh phong h́nh chữ nhật chấn
giữa các diềm cung trang trí chạm nổi văn mây và
hoa lá cầu kỳ, đẹp mắt.
3.2 QUẦN THỂ G̉ CÔNG: Ở G̣ Công, mộ hợp chất mật
tập 3 cụm lớn; trong đó, cụm A - “Lăng
Hoàng Gia” là tập hợp kiến trúc mộ táng quy
mô cực lớn, với 14 lăng mộ và 1 đền
thờ chiếm tới 5 ha ở Long Hưng,
được coi như khu “thánh địa”
của vương triều Nguyễn ở Nam Bộ,
với các ḍng hoàng tộc, đại thần, hoàng hậu,
cung tần mỹ nữ các triều từ Minh Mạng
đến Thành Thái; cụm B - mộ Cụ bà Dương
Thị Hương - phu nhân Đốc phủ sứ G̣ Công,
với chùm kiến trúc đá xanh tạo h́nh thạch cự
tháp 8 mái cao 2,5m, diện tích 25-50m² và 8 trụ chạm h́nh cây
trái 4 mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông; cụm C - 12 lăng
mộ “Họ Huỳnh” quy tụ
khoảnh rộng 1ha, với kiến trúc chạm đá non
nước tinh xảo và đáng khâm phục tới hàng
trăm phù điêu trên khung, văn trang điểm diềm
bia, chân cột, mui luyện và đắp nổi trái
thờ v.v…
4. NHẬN XÉT CHUNG
1 - Chúng ta đă biết rằng, ở Nam
Bộ, mộ hợp chất mật tập trong những
vùng đông dân sầm uất nhất, xưa cũng như
nay và bảo tồn khá đủ đặc trưng
truyền thống Việt về cấu trúc loại h́nh
từ nghĩa địa chung đến kết cấu
mộ phần, chế tạo quan tài và các thủ pháp
bảo tồn thi thể chính. Đến nay, chúng ta cũng
đă khảo sát - khai đào hàng ngàn di tích dạng này ở
TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, B́nh Dương, Tiền
Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu v.v. Đó là những nguồn
liệu “Nam Bộ” đặc sắc
và có giá trong công cuộc khảo cứu lịch sử -
văn hoá- xă hội - tín ngưỡng cư dân Việt vùng “Đất
rừng Phương Nam” của Tổ
Quốc chúng ta hiện nay. Cũng như ở các Cố
Cung Thăng Long và Huế, những quần thể lăng
mộ bằng hợp chất được kiến tạo
nhằm thỏa măn ước nguyện muốn vĩnh
hằng “mồ yên, mả đẹp” trong quan - quách
của tầng lớp thượng lưu trong xă hội
đương thời, là quy định “đặc
quyền” của riêng hoàng tộc Nguyễn và cận
thần ở Nam Bộ, cùng các quan gia danh tướng
đại thần từng cai quản miền này, các
thủ lănh địa phương, những ḍng tộc “đại
gia” và chúa đất có vai vế nhất ở
từng vùng (Thánh địa “Hoàng gia”
Nguyễn từ Minh Mạng đến Thành Thái ở Long
Hưng (G̣ Công); mộ phần các ḍng họ Phạm,
Huỳnh, Dương, Vơ, Nguyễn, Lê, Trần ở G̣ Công Tây (Tiền Giang);
giống như khu mộ gia
tộc Mạc ở Hà Tiên; lăng danh tướng
Thoại Ngọc Hầu ở Núi Sam (Châu Đốc - An
Giang); lăng mộ Quận công Nguyễn Huỳnh
Đức ở Tân An (Long An), của Tả quân Lê Văn
Duyệt và người em trai Chưởng cơ ở Phú
Nhuận; các lăng mộ Pḥ mă Vơ Tánh; Oâng Bà Chiểu,
Thoại Ngọc Hầu, Trương Tấn Bửu, Quan
Nhất Nguyễn Văn Học; Phó Tổng trấn thành Gia
Định Huỳnh Công Lư, Tả Tham tri bộ binh Phạm
Lượng và mộ phần các ḍng họ Tạ, Hồ,
Trần, Phạm, Huỳnh vùng Thủ Đức (Thành
phố Hồ Chí Minh) v.v. Ngoài những đặc trưng
chung của táng tục truyền thống kiểu này,
mộ hợp chất Nam Bộ có không ít chi tiết khác
biệt ở từng tiểu vùng, từ vật liệu và kỹ thuật
xây dựng, quy mô và kết cấu công tŕnh phần
ch́m-phần nổi, đến kỹ thuật làm quan,
ướp xác và cả tùy táng phẩm chôn kèm theo
người mất. Nh́n chung, mộ hợp chất Nam
Bộ kiến tạo rất công phu, dày công và tốn kém,
quy mô rất đồ sộ, với kích cỡ và tiểu
tiết các quy tŕnh xây dựng ít thấy ở miền
Bắc. Ví như, người Nam Bộ xưa phá thông
lệ: luyện đúc thành hộc huyệt h́nh khối
chữ nhật rỗng (đáy nền có hay không bao kín)
bằng hợp chất, để áo quan sâu xuống
dưới (đáy lót gạch hay tro, cát), phía trên lèn cát và
các vật liệu khác, rồi lại đổ hợp
chất thành mui luyện bao kín; hay t́m danh mộc trong
rừng nguyên sinh bản địa, kiểu gỗ “trai”
thớ dầy chắc ít bị nứt nẻ và các loại
gỗ ngoại hạng khác, cũng hiếm quư nhưng không
chứa nhựa thơm như san mộc miền Bắc.
Các áo quan Nam Bộ thường lớn, v́ ván thiên tạo
thành ṿm, được khắc gỗ dày đặc, trang
trí rất cầu kỳ. Đương nhiên, v́ nhiều lư
do tạo nên những nhân tố khách quan dẫn đến
việc phân huỷ - bị đào phá xâm phạm, khí hậu
nắng nóng mưa nhiều, chất lượng nguyên liệu
và kỹ thuật xây dựng chưa “chuẩn”,
đến chất liệu quan tài và thủ pháp ướp
xác chưa “cao tay” (không có
được chất dầu thơm đặc thù “Bắc”
thấm đẫm các thi hài và đồ khâm liệm) ở
Nam Bộ
, rất hiếm các thi hài và tùy táng hữu
cơ c̣n bảo tồn nguyên vẹn như các di tích phía
Bắc. Trong không ít công tŕnh nơi đây, khi mui luyện và
vỏ quách bị xâm phạm do các nguyên nhân chủ quan và
cả do chất lượng hợp chất cùng kỹ
thuật xây dựng không “như ư”,
áo quan (và cả thi hài hay tuỳ táng phẩm) thường
bị hủy hoại nhiều; ngoại trừ hiện kim
và di vật vô cơ giúp nhiều cho các nhà khai quật
đoán định về thân thế chủ nhân và niên
biểu công tŕnh.
2 - Về khung tuổi chung, chúng không thật
cổ kính, chỉ thường thấy niên đại
muộn, phổ cập trong 2 thế kỷ 18 - 19. Đây
cũng chính là thời đoạn lịch sử mà các thế lực phong kiến
Nguyễn dần củng cố thế lực và và b́nh
ổn địa cuộc trên những vùng đất
mới, ở Gia Định đă có đông người
Việt đến làm ăn sinh sống (với ước
định khoảng 150.000 - 300.000 nhân khẩu). Vào thủa
ấy, người Hoa cũng đă nhập cư không ít
ở Đồng Nai, Mỹ Tho và Hà Tiên. Chúa Nguyễn đă
cho lập khá nhiều dinh - đạo - trấn; Ví như,
Dinh Trấn Biên, Phiên Trấn Lâm Hồ, Hà Tiên Trấn, cùng
các Đạo Tân Châu, Châu Đốc, Kiên Giang, Long Xuyên,
Đôn Khẩu, Trường Đồn v.v. Cùng với các
sự nghiệp lao động vĩ đại của
cư dân Việt “gốc Bắc” và “gốc
Trung” (và về sau thêm cả những người “Việt
gốc Hoa”) khai phá mở rộng đất canh tác,
kiến lập xóm làng, chợ búa, xây dựng đ́nh chùa
miếu mạo h́nh thành các ḍng họ lớn từng lănh
địa, thể loại mộ hợp chất theo đó
mà phổ biến ở nhiều vùng của Nam Bộ
(Việt Nam).
3 -Trong khung cảnh Nam Bộ chung, các quần
thể lăng mộ hợp chất Tiền Giang
thường kiến tạo trên vùng khí hận nóng ẩm và
nhiều mưa ở Cái Bè và G̣ Công, với hàng chục di
tích mang h́nh hài “Thánh địa” “có
quy mô vào loại lớn của nước ta
bao gồm mọi tinh hoa kiến trúc mộ
táng như chất liệu hợp chất, gạch và đá,
mỗi vật liệu xây dựng đều có sự
chọn lựa, chạm khắc chu đáo, cùng không ít
trụ đài sen tả thực và cách điệu, hàng
trăm phù điêu, tượng và tranh khắc đá tinh
xảo không chỉ minh hoạ các tích cổ Trung Hoa (Bá Nha
Tử Kỳ, Lă Vọng câu cá), mà c̣n đặc tả
về thiên nhiên và con người bản địa -
thể hiện về hoa trái 4 mùa Nam Bộ (lê, lựu, táo,
măng cầu, xoài, khế, đu đủ, măng cụt,
thanh long
.), về nhiều con vật gần gũi
với con người, cùng nhiều hoạ cảnh
đời sống Nam Bộ thủa đương
thời (nhà nho uống trà, thi cử, chơi cờ,
đốn củi, chăn dê, săn nai, vịt lội ao
sen
) (Đỗ Đ́nh Truật - Lê Aùi Siêm -
Dương Hùng Dũng - Nguyễn Mạnh Thắng, 1997; Lê
Aùi Siêm, 1997; Phạm Đức Mạnh - Phan Thanh Toàn, 2002).
Về cách thức mai táng, người Cái Bè xưa chế
tạo áo quan quách gỗ bao ngoài bằng danh mộc. Quách
gỗ do mộng con cá ghép với nhau, không có định
sắt, có 6 riềng ván xẻ ghép úp tṛn h́nh bầu dục
ở trên. Ở đầu 2 vách gỗ là 2 bức khắc phù điêu có h́nh
chim phụng, chân là 1 đóa sen có lá và gốc rễ. Aùo quan
có cấu tạo 2 đáy: đáy trên - nơi đặt thi
thể - có lỗ thủng nhỏ, đáy dưới có
đọng thủy ngân, dược liệu và gần 50kg
hạt giống cà phêù (?). Trong quan, thi thể chủ nhân
được phủ chiếu cói và các lớp khâm
liệm, gấm, vải xó và giấy bản, bị hư
nát nhiều do ngâm trong nước. Di cốt c̣n 1 sọ và
đủ xương tay, chân, sườn, trụ, cột
sống, chậu, bộ răng bị long ra ngoài 3
chiếc, mặt răng ṃn trơn láng - có thể chủ
nhân thọ khoảng 70 - 80 tuổi (?) và là nhà sư có
học thức (v́ có mực tàu, bút lông và mũ ni). Ở
ngôi mộ MC3-CB-9/94 có huyệt sâu gần 1,4m, khi đào qua
lớp cát dầy 20 - 30cm là gặp quách chứa áo quan.
Mở nắp quách, nắp quan phủ 1 lá triện song
chữ viết đă bị mục. Aùo quan sơn dầy,
trét kín lớp dầu trai và, dù trong áo quan bị thấm
nước, di cốt nguyên hộp sọ và xương
cơ thể, với chiều cao 1,5m, răng rụng
mất vài chiếc với độ ṃn vừa phải, có
thể chủ nhân thọ khoảng 60 - 65 tuổi, có chôn kèm
vải, lụa, gấm, giấy dó nguyên bản, 1 bút lông cán
trúc, 1 ống xoáy trầu. Niên đại các mộ có
thể khoảng hơn 200 năm cách nay (Đỗ Đ́nh
Truật - Lê Aùi Siêm - Dương Hùng Dũng - Nguyễn
Mạnh Thắng, 1977; Phạm Đức Mạnh - Phan Thanh
Toàn, 2002).
4 - Các mộ mới biết gần đây
nhất ở Hoà Hiệp - Hoà Khánh góp thêm vào danh mục “Loại
h́nh Cái Bè” của Nam Bộ. Về cấu trúc
phần nổi, kỹ thuật xây cất và chất
liệu hợp chất, chúng cơ bản gần gũi
với di tích Mỹ Đức Đông và đơn sơ
hơn các di tích ở thị trấn Cái Bè. Chúng cũng có
nhiều bức diềm trang trí chạm nổi cầu
kỳ và sinh động, với không ít họa tiết mang
dáng dấp của nghệ thuật
chạm trổ và đắp nổi G̣ Công trên thân lăng
mộ Hoàng Gia (văn mây, h́nh trái cây và hoa lá, các chi tiết
chạm trên thân rồng và hổ), ở đường
viền và mặt sau bia mộ Dương Thị
Hương cùng sưu tập phù điêu trong quần
thể mộ Họ Huỳnh (cỏ cây và chim thú). Dù
khuyết danh v́ văn bia, bài vị bị hủy, ngôi
mộ Ḥa Hiệp khẩu truyền là mộ Thành Hoàng thôn An
B́nh là Oâng Nam-Bà Nam, gắn liền với ngôi đ́nh
cạnh đó c̣n lưu giữ sắc thần phong cho “An
B́nh bảo an Thành hoàng chi thần” ngày 27 tháng11
năm Thiệu Trị thứ năm, được nhà
nghiên cứu Hán-Nôm Cao Tự Thanh phiên âm và dịch nghĩa
là: “Sắc An B́nh bảo an Thành hoàng chi thần,
hộ quốc ư dân nẫm trứ linh ứng. Minh Mạng
nhị thập nhất niên trị ngă Thánh tổ Nhân hoàng
đế ngũ tuần đại khánh tiết, khâm
phụng bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng
trật. Tứ kim phỉ ưng cảnh mệnh, miến
niệm thần hưu, khả gia tặng bảo an chánh
trực chi thần, nhưng chuẩn Kiến Phong huyện
An B́nh Tây thôn y cựu phụng sự. Thần kỳ tướng
hựu bảo ngă lê dân. Khâm tai! Thiệu Trị ngũ niên
thập nhất nguyệt nhị thập thất nhật.
Sắc mệnh chi bảo (ấn)” (Sắc: Thành
hoàng bảo an thôn An B́nh, giúp nước cứu dân từng
nhiều lần hiển hiện linh ứng. Năm Minh
Mạng thứ 21 gặp ngày lễ lớn mừng thọ
50 tuổi của Thánh tổ Nhân hoàng đế ta, kính
phụng lời chiếu ban ơn, đă làm lễ nâng
bậc. Ta nay vâng theo mệnh sáng của trời, nghĩ
nhớ đức tốt của thần, tặng thêm là
vị thần Bảo an chánh trực, vẫn chuẩn cho
thôn An B́nh Tây, huyện Kiến Phong thờ phụng như
cũ. Thần th́ phải giúp đỡ để bảo
vệ cho dân đen của ta. Kính đấy! Ngày 27 tháng 11
năm Thiệu Trị thứ năm (27-12-1845). (có đóng
ấn: “Sắc mệnh chi bảo”) (Phạm
Đức Mạnh - Phan Thanh Toàn, 2002).
5 -
Hiện nay, trong công cuộc khẩn trương
đổi mới đất nước bằng sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở
Thành phố Hồ Chí Minh và Nam Bộ, các di tích mộ
hợp chất cùng nhiều di tích lịch sử - văn
hoá - nghệ thuật có giá của tiền nhân trong những
vùng “trọng điểm” xây dựng khu
công nghiệp và đô thị mới cấp thiết
cần khảo sát tiềm năng - nghiên cứu để
định hướng bảo tồn và khai thác di sản
quư bằng những chương tŕnh liên ngành khoa học lớn,
có tính hệ thống và pháp quy. Bởi chúng là những
bằng cớ cụ thể và sinh động bậc
nhất, là tiếng nói trực tiếp của dĩ văng, là
mực hoạ diện mạo quá khứ lịch sử văn hoá vật
chất - tinh thần - tư duy cổ nhân “trên mảnh
đất này”. Chúng là dạng di sản văn hoá -
lịch sử chứa đựng nhiều thông tin khoa
học hữu ích cho sự nghiệp phục dựng
cả thời đoạn lịch sử quan trọng
của đất nước ta, của sự h́nh thành
bản sắc và bản lĩnh lao động sáng tạo
văn hoá riêng của cư dân Việt - lực lượng mật
tập đông đảo nhất là trung tâm liên kết và
cuốn hút nhiều cộng đồng tộc
người khác “chung vai sát cánh” khai phá và
chế ngự thiên nhiên nơi vùng “Đất
mới” Biên Ḥa - Gia Định - Định
Tường và đồng bằng sông Cửu Long trong
những thế kỷ sống động gần đây
nhất. Và, bên cạnh các h́nh loại di tích Khảo cổ
học lịch sử khác (đ́nh, chùa, miếu, mạo,
thành quách, bến cảng, chợ búa, nhà cửa, làng -
phường thủ công cổ truyền, thuyền bè và
thần công nơi chiến trường xưa v.v.),
loại h́nh di tích mộ hợp chất Tiền Giang và Nam
Bộ cũng góp phần cung ứng nhiều điều
cho công cuộc phục sử Việt trong sự nghiệp
khơi dậy mọi sức mạnh văn hoá truyền
thống Đại Việt để kiến tạo
văn minh mang thêm sắc thái “Biên Ḥa - Gia
Định - Định Tường” mới -
diễn tŕnh lao động đầy bản lĩnh biên
hùng mà thông minh, “gian lao mà anh dũng” của
nhiều thế hệ lưu dân tiên phong hướng
về vùng mở nước sau cùng của Tổ Quốc
Việt Nam ngày nay - “Hướng về
Nam”
TÀI LIỆU DẪN
Ban Quản lư di tích lịch sử - danh
thắng Quảng Trị, 2000. Thành cổ Quảng Trị.
ĐỖ Đ̀NH TRUẬT - LÊ ÁI SIÊM -
DƯƠNG HÙNG DŨNG - NGUYỄN MẠNH THẮNG, 1997.
Điều tra và khai quật khảo cổ học ở
Tiền Giang - MSVĐKCHOMNVN, Hà Nội, 522-527.
HOLBÉ, T.V., 1889. Station préhistorique de Mỹ
Lộc (province de Biên Ḥa, Sud Vietnam) - L'Homme revue francaise
d'Anthropologie, 12:108-112, Paris.
LÊ XUÂN DIỆM - ĐỖ Đ̀NH TRUẬT,
1977. Khai quật mộ Vườn Chuối (Thành phố
Hồ Chí Minh) - KCH, số 4: 84-89.
LOOF-WISSOWA, H., 1981. Tiền sử và sơ
sử Đông Nam Á - Khảo cổ học, số 1:73-77.
MAI VĂN HẬU - KIM SA RAI, 2002.Kết quả
điền dă di chỉ khảo cổ Rạch Lá
(Đồng Nai) 2002-Khóa luận thực tập 4-2002.
NGUYỄN TUYẾT TRINH, 2001. Thánh địa
Mỹ Sơn, một số vấn đề cần quan
tâm - Xă hội Nhân Văn, TĐHKHXH&NVTPHCM, số 4:11-12.
PHẠM ĐỨC MẠNH, 1977. Điều
tra G̣ Đá (Sông Bé) - Khảo cổ học, số 4:22-28;
1986. Đồ gốm ở Suối Linh - Những phát
hiện mới về khảo cổ học 1986: 205-209;
1997. Kết quả khảo sát bề mặt Khu quy hoạch
xây dựng quần thể công tŕnh lịch sử - văn
hóa dân tộc (Long B́nh - Thủ Đức, Thành phố
Hồ Chí Minh) - Một số vấn đề Khảo
cổ học ở Miền Nam Việt Nam, NXB KHXH, Hà
Nội: 579-587; 2001. Đằng sau “Lư lịch di
vật cổ” - Xă hội Nhân văn, TĐHKHXH&NVTPHCM,
số 3:4-5.
PHẠM ĐỨC MẠNH - LÊ XUÂN DIỆM,
1996. Khai quật mộ hợp chất Phú Thọ (Thành
phố Hồ Chí Minh) - Khảo cổ học, số 1:
59-73.
PHẠM ĐỨC MẠNH - PHAN THANH TOÀN,
2002a. Khảo sát các quần thể mộ cổ ở
Tiền Giang - Xă hội Nhân Văn, số 5 : 12-13.
PHẠM NGỌC THẢO, 2002. Cảm nghĩ
sau một chuyến đi - Xă hội Nhân văn, số
6:20-23.
PHẠM QUANG SƠN - LÊ CÔNG TÂM, 1986. Khai
quật di tích Suối Linh (Đồng Nai) - Những phát
hiện mới về khảo cổ học 1986: 218-221.
TRẦN QUỐC VƯỢNG - PHẠM
ĐỨC MẠNH - CTV, 1996. Trở lại Cái Vạn
(Đồng Nai) - Những phát hiện mới về
khảo cổ học 1996: 110-124.